Ngày xửa ngày xưa, có hai vợ chồng một ông già tên là Dã Tràng. Trong
vườn họ có một hang rắn. Thường ngày làm cỏ gần đấy, ông già vẫn thấy
có một cặp vợ chồng rắn hổ mang ra vào trong hang .
Một hôm, con rắn chồng bò ra khỏi hang một mình. Ông nhìn vào, thấy
rắn vợ nằm cuộn ở trong. Vì mới lột nên mình mẩy của nó yếu ớt không cựa
quậy được. Một lúc lâu rắn chồng bò trở về, miệng tha một con nhái đút
cho vợ ăn .
Ít lâu sau, Dã Tràng lại thấy rắn vợ bò ra khỏi hang một mình. Lần
này rắn chồng đến kỳ lột, nằm im thiêm thiếp, lốt da cũ còn bỏ lại bên
hang. Hồi lâu, rắn vợ trở về, theo sau một con rắn đực khác khá lớn. Dã
Tràng thấy hai con bò đến cửa hang thì dừng lại rồi quấn lấy nhau như
bện dây thừng. Một lát sau, con rắn đực một mình bò vào hang. Dã Tràng
biết con rắn đực này toan làm gì rồi. Ông cảm thấy tức giận, muốn trừ bỏ
con rắn đó đi để cứu con rắn chồng đang lúc suy nhược. Lúc đó bên mình
không có cái gì cả, ông bèn rút một mũi tên nhằm con rắn đực mới đến,
bắn ngay một phát. Không ngờ mũi tên lại trúng vào đầu con rắn vợ chết
tươi, còn con kia hoảng hồn chạy mất. Dã Tràng nghĩ cũng thương con rắn
cái, nhưng trong cái thương có lẫn cả giận, nên ông chán nản bỏ đi về
nhà. Từ đó ông không thèm để ý đến hang rắn nữa. Chừng dăm bảy ngày sau,
một hôm Dã Tràng nằm võng thuật chuyện vợ chồng con rắn cho vợ nghe và
vui miệng, ông kể luôn những việc mình đã thấy và đã làm. Ông kể vừa dứt
lời thì bỗng nghe trên máng nhà có tiếng phì phì. Cả hai người hốt
hoảng nhìn lên thì thấy có một con rắn hổ mang rất lớn, đuôi quấn lấy xà
nhà, đầu vươn gần chỗ ông nằm, miệng nhả một viên ngọc. Ông vừa cầm lấy
thì bỗng nghe được tiếng rắn nói :
- Ông là ân nhân mà tôi cứ ngỡ là kẻ thù. Mấy hôm nay tôi đợi ông
trên máng này chỉ chực mổ chết để báo thù cho vợ tôi . Nhưng hồi nãy
nghe ông kể chuyện rõ ràng, tôi mới biết là lầm. Xin biếu ông viên ngọc
nghe này. Đeo nó vào mình thì có thể nghe được mọi tiếng muông chim ở
thế gian.
Từ kinh ngạc đến sung sướng, Dã Tràng nhận viên ngọc quý và từ đó không bao giờ rời.
Một hôm, Dã Tràng đang hái rau, tự dưng có một bầy quạ đến đậu ở mấy
ngọn cau nói chuyện lao xao. Chúng nó bảo Dã Tràng như thế này : “Ở núi
Nam có một con dê bị hổ vồ. Hãy lên đó lấy về mà ăn nhưng nhớ để lòng
lại cho chúng tôi với”. Dã Tràng làm theo lời quạ, quả thấy xác một con
dê trên núi Nam. Ông xẻo lấy một ít thịt xâu lại xách về. Đến nhà, ông
vội mách cho xóm giềng biết mà đi lấy, không quên dặn họ để bộ ruột dê
lại cho bầy quạ. Nhưng ông không ngờ người trong xóm nghe tin ấy, đua
nhau đi đông quá, thành ra họ lấy tất cả, chẳng chừa một tí gì.
Lũ quạ không thấy ruột dê, cho là Dã Tràng đánh lừa, bèn đổ xô đến
vườn ông réo om sòm. Thấy vậy ông biết là người trong xóm đã làm hại
mình, không giữ chữ tín với bầy quạ. Ông phân trần mấy lần nhưng bầy quạ
không nghe, cứ đứng đó chửi mãi.
Tức mình, ông bèn lấy cung tên ra bắn vào chúng. Chủ ý là để đuổi
chúng đi chứ không định giết. Chẳng ngờ bầy quạ thấy vậy cho là ông lấy
oán trả ân, liền cắp mũi tên có tên Dã Tràng ở đuôi, tìm dịp báo thù.
Lúc bay qua sông, thấy một cái xác chết trôi, đàn quạ bèn đem mũi tên ấy
cắm vào yết hầu xác chết. Khi quan sở tại đến làm biên bản, thấy mũi
tên, liền đoán Dã Tràng là thủ phạm, sai lính bắt ông, hạ ngục.
Dã Tràng bị bắt bất ngờ, hết sức kêu oan, nhưng mũi tên là một chứng
cớ sờ sờ làm cho ông đuối lý, đành chịu chui đầu vào gông . Tuy nhiên,
ông vẫn một mực xin quan xét giải ông về kinh để vua phân xử.
Từ đề lao tỉnh, ông bị điệu đi. Dọc đường trời tối, bọn lính dừng lại
quán ăn uống và nghỉ ngơi. Dã Tràng cổ bị gông, chân bị xiềng nằm trên
đống rơm buồn rầu không ngủ được. Lúc trời gần rạng, ông nghe có một đàn
chim sẻ bay ngang đầu nói chuyện với nhau :
- Nhanh lên ! Chuyến này sẽ không lo đói nữa mà cũng chả sợ ai đánh đuổi cả.
Một con khác hỏi :
- Của ai mang đến bỏ vương vãi như thế ?
Con nọ trả lời :
- Của Vua nước bên kia. Họ toan kéo sang đánh úp bên này. Ngày hôm
qua, quân đội giáo mác kéo đi liên miên không ngớt. Nhưng xe thóc vừa
sắp đến biên giới thì bị sụp hầm đổ hết. Họ đang trở về lấy thứ khác cho
nên chúng ta tha hồ chén.
Nghe đoạn, chờ lúc bọn lính thúc dục lên đường, Dã Tràng bảo họ :
- Xin các ông bẩm lại với quan rằng việc oan uổng và nhỏ mọn, không
nên bận tâm, mà giờ đây chỉ nên lo việc quốc gia trọng đại thôi, và còn
cấp bách nữa là khác.
Bọn lính tra gạn ông mãi nhưng ông không nói gì thêm, chỉ nài rằng hễ có mặt quan, mình mới tỏ bày rõ ràng.
Khi gặp mấy vị quan đầu tỉnh, Dã Tràng liền cho họ biết rằng Hiến Đế ở
phương bắc đã sai tướng cầm quân sang đánh úp nước mình. Hiện họ đang
đóng quân đầy ở biên giới, chỉ vì bị sụp hầm, xe lương đổ hết, chưa tấn
công được. Bây giờ họ đang vận thêm lương, chờ đầy đủ sẽ vượt cửa ải
sang Nam. Bọn quan tỉnh lấy làm lo lắng nhưng cũng cố hỏi ông có dám
chắc như vậy không. Dã Tràng chỉ vào đầu mình mà đoan rằng nếu có sai,
ông sẽ xin chịu chết. Nhưng nếu lời của ông đúng thì xin bề trên thả ra
cho. Ngay lúc đó, những tên quân do thám được tung đi tới tấp mọi ngõ để
lấy tin. Và nội ngày hôm sau, Dã Tràng được thả vì lời mách của ông quả
không sai và vừa vặn đúng lúc để chuẩn bị đối phó với địch.
Được tha, Dã Tràng đi bộ lần về quê nhà. Bóng chiều vừa ngả, ông mới
đến vùng Hồng Hoa. Ông tìm vào nhà người bạn rất thân là Trần Anh nghỉ
chân.
Gặp lại bạn cũ, vợ chồng Trần Anh vui mừng khôn xiết. Nghe tin ông bị
tra tấn giam cùm và suýt mất đầu, hai vợ chồng rất cảm thương bạn. Thấy
bữa ăn tối thết bạn không có gì, Trần Anh xuống bếp bảo vợ :
- Bạn ta đến, lại gặp lúc trong nhà chả có gì ăn. Sẵn có cặp ngỗng,
con nó đã khôn, ta làm thịt một con, ngày mai đãi bạn lên đường.
Người vợ bằng lòng nhưng dặn chồng sáng sớm bắt ngỗng và cắt tiết vặt lông giúp mình một tay.
Trong khi hai vợ chồng bàn tính thì cặp ngỗng ở ngoài chuồng nghe được câu chuyện. Ngỗng trống bảo ngỗng mái :
- Mình ơi ! Mình hãy ở lại nuôi con, tôi sẽ đứng sẵn cho chủ nó bắt.
Ngỗng mái không nghe, xin chết thay cho chồng. Nhưng ngỗng trống nhất
quyết hy sinh, nên chạy ra sân từ giã đàn con :
- Con ơi ! Các con ở lại với mẹ nghe. Cha sẽ không bao giờ gặp lại các con nữa.
Song ngỗng mái vẫn lạch bạch chạy theo, đòi chết thay chồng cho bằng được.
Lúc bấy giờ Dã Tràng nằm trên bộ ván đặt kề cửa sổ nên nghe được
tiếng ngỗng than thở. Ông bỗng thấy thương con vật vô tội chỉ vì mình mà
phải lìa đàn con bé bỏng. Ông toan nói trước với bạn, nhưng thấy bất
tiện. Ông đành nghe ngóng ở chỗ chuồng ngỗng chờ lúc bạn ra bắt thì sẽ
cản lại.
Suốt đêm hôm đó tuy mệt mà ông không dám ngủ. Quả nhiên, vào khoảng
canh tư, Trần Anh thức dậy bước ra chuồng. Ngỗng trống xua ngỗng mái
chạy rồi vươn cổ để cho bắt. Trần Anh sắp cắt cổ ngỗng thì Dã Tràng đã
lật đật chạy xuống bếp nắm lấy đao. Ông nói :
- Xin bạn thả nó ra. Tính tôi không hay sát sinh. Tình thân của đôi
ta lọ phải cỗ bàn mới thân. Nếu bạn giết nó thì tôi lập tức đi khỏi chỗ
này.
Thấy bạn có vẻ quả quyết, Trần Anh đành thả ngỗng ra, rồi giục vợ chạy đi mua tép về đãi bạn.
Cơm nước xong, Dã Tràng từ giã bạn lên đường về nhà. Đến ao, ông đã
thấy vợ chồng ngỗng cùng với bầy con đứng chực ở đấy. Ngỗng đực tặng Dã
Tràng một viên ngọc và nói :
- Đa tạ ân nhân cứu mạng. Không biết lấy gì báo đền, chúng tôi xin
tặng người viên ngọc này, mang nó vào người có thể đi được dưới nước dễ
dàng không khác gì trên bộ. Nếu đem ngọc này xuống nước mà khoắng thì sẽ
rung động đến tận đáy biển.
Ngỗng lại nói tiếp :
- Còn như con tép là vật đã thế mạng chúng tôi thì từ nay, dòng dõi chúng tôi sẽ xin chừa tép ra không ăn, để tỏ lòng nhớ ơn !
Dã Tràng không ngờ có sự báo đáp quá hậu như thế, sung sướng nhận lấy ngọc rồi về.
Khi đến bờ sông, Dã Tràng muốn thử xem công hiệu của viên ngọc mới,
liền cứ để nguyên áo quần đi xuống nước. Thì lạ thay, nước rẽ ra thành
một lối cho ông đi thẳng xuống đáy sông . Ông dạo cảnh hồi lâu rồi cầm
viên ngọc khoắng vào nước nhiều lần để thử xem thế nào.
Hôm đó, Long Vương và các triều thần đang hội họp ở thủy phủ bỗng
thấy nhà cửa lâu đài và mọi kiến trúc khác bỗng nhiên rung động, cơ hồ
muốn đổ. Ai nấy đều nháo nhác không hiểu duyên cớ. Vua lập tức truyền
cho bộ hạ đi dò la sự tình.
Bộ hạ Long Vương theo con đường sóng ngầm lọt vào cửa sông thì thấy
Dã Tràng đang cầm ngọc khoắng vào nước. Mỗi lần khoắng như thế, họ cảm
thấu xiêu người nhức óc. Tuy biết đích là thủ phạm, họ cũng không dám
làm gì, chỉ tiến đến dùng lời nói khéo mời ông xuống chơi thủy phủ.
Gặp Long Vương, Dã Tràng cho biết đó là mình chỉ mới làm thử để xem
phép có hiệu nghiệm chăng. Long Vương và triều thần nghe nói, ai nấy đều
xanh mặt. Nếu hắn làm thật thì thế giới thủy phủ sẽ còn gì nữa ! Vì
thế, Long Vương đãi Dã Tràng rất hậu. Ông muốn gì có nấy. Cho đến lúc
ông ra về, Long Vương còn đem vàng bạc tống tiễn rất nhiều để mong nể
mặt.
Dã Tràng lên khỏi nước có bộ hạ của Long Vương tiễn chân về tới tận
nhà mới trở lại. Bà con xóm giềng thấy ông đã không việc gì mà lại trở
nên giàu có thì ai cũng lấy làm mừng cho ông . Từ đó Dã Tràng rất quý
hai viên ngọc. Ông may một cái túi đựng chúng và luôn luôn đeo ở cổ.
Một hôm Dã Tràng đi bộ nửa ngày đường đến nhà một người bà con ăn
giỗ. Lúc đến nơi Dã Tràng sờ lên cổ giật mình mới nhớ ra vì vội vàng quá
nên ông đã bỏ quên mất túi ngọc ở nhà. Ông thấy không thể nào an tâm
ngồi ăn được. Mọi người đều lấy làm ngạc nhiên thấy ông vừa chân ướt
chân ráo đến nơi đã vội cáo từ về ngay.
Nhưng khi về đến nhà, ông tìm mãi vẫn không thấy túi ngọc đâu cả. Ông
rụng rời cả người. Đi tìm vợ, vợ cũng không thấy nốt. Nóng ruột, ông
lục lọi khắp nơi. Cuối cùng ông bắt được một mảnh giấy do vợ ông viết để
lại gài ở chỗ treo áo. Trong đó, vợ ông nói rằng có người của Long
Vương lên bảo cho biết hễ ai bắt được túi ngọc đưa xuống dâng Long Vương
thì sẽ được phong làm hoàng hậu. Bởi vậy bà ta đã trộm phép ông, đưa
túi ngọc xuống thủy phủ rồi, không nên tìm làm gì cho mệt. Đọc xong thư
vợ. Dã Tràng ngất đi. Ông không ngờ vợ ông lại có thể như thế được. Ông
cũng không ngờ âm mưu của Long Vương thâm độc đến nước ấy. Nghĩ đến hai
thứ bảo vật, ông tức điên ruột. Sau cùng, ông dự tính chở cát lấp biển
thành một con đường đi xuống thủy phủ để lấy lại túi ngọc vì ông còn nhớ
cả đường lối đến cung điện của Long Vương. Mặc dầu mọi người can ngăn,
ông cũng không nghe, bèn dọn nhà ra bờ biển làm công việc đó. Ngày ngày
ông xe cát chở đến bờ quyết lấp cho bằng được. Cho tận đến chết, Dã
Tràng vẫn không chịu bỏ dở công việc. Chết rồi ông hóa thành con còng
còng hay cũng gọi là con Dã Tràng ngày ngày xe cát để lấp biển. Tục ngữ
có câu :
Dã Tràng xe cát biển Đông .
Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.
Hay là :
Công Dã Tràng hàng ngày xe cát,
Sóng biển dồn tan tác còn chi .
Hay là :
Con còng còng dại lắm không khôn .
Luống công xe cát sóng dồn lại tan .
Người ta nói ngày nay loài ngỗng sở dĩ không bao giờ ăn tép là vì
chúng nó nhớ ơn loài tép đã thế mạng cho tổ tiên mình ngày xưa. Họ còn
nói loài ngỗng có một cái mào trắng trên đầu là dấu hiệu để tang cho Dã
Tràng để nhớ ơn cứu mạng.
- Trang chủ
- ›
- ke-truyen-cho-be
- ›
- Câu truyện cổ tích: Sự tích con Dã Tràng
Câu truyện cổ tích: Sự tích con Dã Tràng
Ngày đăng: 10:44 PM Người đăng Unknown .
Danh mục: ke-truyen-cho-be
